03-01-2013

Cảm xúc khi thăm nơi Trương Kế sáng tác "Phong Kiều dạ bạc"

Bến Phong Kiều
Bến Cô Tô (ảnh: wikipedia)
Blog người hiếu cổ - Chắc hẳn không ít trong số chúng ta đều đã từng được học hoặc được nghe bài thơ "Phong Kiều dạ bạc" (Đêm đậu thuyền ở bền Phong Kiều) của nhà thơ Trương Kế đời Đường. Những hình ảnh tiếng chuông chùa Hàn Sơn với bóng thuyền đậu trên bến Cô Tô là những hình ảnh để lại rất nhiều cảm xúc cho người đọc. Bản thân tôi từ khi còn học phổ thông, biết đến bài thơ này qua sách giáo khoa, đã mơ ước được đặt chân đến vùng đất mà Trương Kế đã đề thơ để hòa cùng thiên nhiên nơi đó, tuy nhiên, điều đó đến nay vẫn chỉ là ước mơ mà thôi...
Sáng nay mở email ra, không hiểu cơ duyên nào mà dịch giả - nhà nghiên cứu - nhà văn Nguyễn Khôi lại gửi liền 3 email cho tôi bao gồm một số tác phẩm tâm đắc cộng với chùm thơ "Thăm chùa Hàn Sơn" cùng mấy dòng tản mạn. Liền reply để xin phép đăng tải trên blog, và nhận được sự đồng tình. Xin đưa lại bài tản mạn "Thăm chùa Hàn Sơn" và chùm thơ ông viết tặng nhà thơ Vũ Quang Tần như sau:

THĂM HÀN SƠN TỰ
Tô Châu - Trung Quốc 19- 6-2006
Nguyễn Khôi
"Chưa đến Hàn Sơn Tự
Biết đâu phố Phong Kiều?"
--------
Đến Tô Châu ai cũng háo hức đi thăm Hàn Sơn Tự.Đó là ngôi chùa do Thiền sư Hy Thiên, pháp danh là Hàn Sơn Tử Giả xây vào khoảng năm Thiên Giám đời Lương, thuộc Nam Triều (Thế Kỷ Vl),tại trấn Phong Kiều bên ngoài Xương môn,phía tây thành Cô Tô (Nay là Tô Châu).Thiền Sư lấy tên hiệu(pháp danh) của mình đặt tên cho chùa"Hàn Sơn Tự" để làm kỷ niệm.Từ đây thiền sư lại vân du đi chơi núi Lạnh(Hàn Sơn) đó là núi Thiên Thai(nơi sinh ra dòng tu Thiên Thai Tông) kết bạn với Thiền sư Thập Đắc Phong Can.Bức hoành phi với bốn chữ đại tự"Hàn Sơn Thập Đắc" có nghĩa là chùa Hàn Sơn lấy tên hai người là Hàn Sơn và Thập Đắc mà lưu danh.

Trải qua nhiều biến động của các triều đại,chùa Hàn Sơn bị binh lửa đời Thanh đốt cháy(năm 1860),đến năm Quang Tự thứ 3(1904) chùa được xây dựng lại với quy mô dáng dấp như còn thấy ngày nay,gồm có : Đại điện,Tàng kinh lâu(lầu chứa kinh),Chung lâu(lầu chuông),Phong giang lâu(lầu ngắm rừng phong bên sông),bi lang(hành lang đặt bia).Điều thú vị là trong sân chùa có đặt tượng thi sĩ Trương Kế,mà theo tục lệ:các tao nhân mặc khách tứ xứ đến viếng chùa ai nấy đều tới vuốt nhẹ vào bàn tay pho tượng với ước nguyện để được tăng thêm nội lực,được chia sẻ một chút hồn thơ...đồng thời trong chùa còn giữ nhiều cổ vật quý giá,trong đó có tấm bia khắc bài thơ nổi tiếng Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế đời Đường(khoảng trước năm 754).


"Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hoả đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền."

Dịch thơ:
"Trăng tà,tiếng qụa kêu sương
Lửa chài,cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn."
(Nguyễn Hàm Ninh - trước đây cho là của Tản Đà dịch)

Dịch "Thuyền ai đậu bến Cô Tô" là dịch thoát ý,dịch đúng phải là:
"Trăng lặn,sương mờ,nghe tiếng quạ
Lửa chài cây ánh,giấc chưa yên
Cô Tô bên mái Hàn Sơn Tự
Đêm muộn chuông ngân vẳng đến thuyền."
(Bùi Khánh Đản)

"Quạ kêu,trăng xế,sương tuôn
Lửa chài cây bến,giấc buồn ngó nhau
Chùa Hàn Sơn mé Tô Châu
Nửa đêm bỗng tiếng chuông đâu đến thuyền."
(Hoài Anh)

Sự ra đời của bài thơ: theo giai thoại thì Trương Kế người Tương Châu một lần đi thi trượt (tiến sỹ), theo dòng Vận Hà bắc nam,đêm đỗ thuyền ở bến Phong Kiều(bến Cây Phong)bên chùa Hàn Sơn(Hàn Sơn đây là tên chùa,chứ không có núi Lạnh như một số dịch giả suy diễn qua văn bản thơ...vào thời bấy giờ(đời Đường)người ta có"phân dạ Chung"(chuông chia đêm)đánh vào lúc nửa đêm...Thi Sỹ buồn (vì thi trượt)nằm trong thuyền chập chờn bên ngọn lửa của ngư ông(lão đánh cá) giữa trời sương,trăng lặn lảnh tiếng quạ kêu cùng tiếng chuông chùa Hàn Sơn nửa đêm vọng tới...tức cảnh sinh tình,Trương Kế hạ bút hồn cất cánh thơ để lại một Phong Kiều Dạ Bạc lưu truyền hậu thế.Cũng nhờ có thơ Trương Kế mà Hàn Sơn Tự trở nên nổi tiếng hấp dẫn khách năm châu bốn biển được các thi nhân viếng thăm đề vịnh.Xin dẫn một vài ví dụ với đôi câu thơ hay: . Ô đề nguyệt lạc kiều biên tự (Quạ kêu trăng xế chùa bên cầu) Tần Thục - đời Tống . Lãnh tận Hàn Sơn cổ tự phong (Lạnh đến cả cây phong bên chùa cổ Hàn Sơn) Khang Hữu Vi - đời Thanh Còn một điều cực kỳ thú vị nữa là:theo Giáo sư Kiều Thu Hoạch thì thơ Trương Kế không chỉ ảnh hưởng đến thơ Việt (kể cả nhạc Văn Cao) mà còn ảnh hưởng đến cả đời sống văn hoá - ngôn ngữ của người Việt.Số là cái bát canh mà ở Bắc Việt hiện nay vẫn gọi là"bát ô tô", Nam Việt gọi là "tô" thì Đại Nam Quốc Âm tự vị (Sai Gon - 1895) của Paulus Của giải thích là"bát thành Cô Tô làm ra,bát lớn mà khéo".Tuy nhiên ý kiến của Paulus Của chỉ đúng một nửa.Theo ý kiến của giới ngôn ngữ học thì đó chỉ là cái bát có vẽ cảnh Cô Tô theo ý thơ "Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự". Người Bắc Việt nhân đó gọi là bát Cô Tô , rồi gọi chệch là "bát ô tô", còn dân Nam Việt gọi tắt là "bát tô", rồi "tô". Xem thế,đủ thấy sức lan toả về mặt văn hóa của một kiệt tác văn học quả là sâu rộng lắm thay!


Thơ THĂM HÀN SƠN TỰ
(Tặng: Nhà thơ Vũ Quang Tần)
1- Chùa cổ, thơ đề, vẳng tiếng chuông
Ngàn năm ngưỡng vọng đến Hàn Sơn
"Cô Tô thành ngoại" in bóng Nguyệt
Để khách đa tình phải vấn vương.
                     
2- Nắng gắt, người chen, ánh chiều tà
Bờ Phong xòa bóng, Liễu thướt tha
Chuông động hồn xưa Hàn Sơn Tự
Lên tháp vời trông sóng Vận Hà.
                     
3-Chiều sương dạo phố Phong Kiều
Tựa " Đình Chiết Liễu" gió reo đôi bờ
Thuyền ai về bến Cô Tô
Lửng lơ nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.
Bạn thích bài viết này? Xin hãy chia sẻ với bạn bè:
  • Share to Facebook
  • Share to Twitter
  • Share to Google+
  • Share to Blogger
  • Share to Email
  • Share to Yahoo Messenger
  • More...

3 comment(s)

  1. Tôi sang đấy rồi, nhưng ngó lên bờ thấy mấy chú chệt, chợt bại hứng, quay về liền! Không nghe chuông chùa đâu cả mà chỉ nhớ tiếng kêu thét ở đảo Gạn ma!

    Trả lờiXóa
  2. Theo em thì Hàn Sơn nên đọc theo âm là Hàn San, hj. :)

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Sơn hay San đều thông nhau bạn ạ, không nên câu nệ vì chúng đã đi vào thói quen từ xưa rồi :)

      Xóa

:) :-) :)) =)) :( :-( :(( :d :-d @-) :p :o :>) (o) [-( :-? (p) :-s (m) 8-) :-t :-b b-( :-# =p~ :-$ (b) (f) x-) (k) (h) (c) cheer

 
© 2012-2014 Blog người hiếu cổ All rights reserved.
Admin: Nguyễn Ngọc Thanh Email: thanhsinonom@gmail.com
Lên đầu trang